|
Theo đó, ước tính sản lượng niên vụ 2012/13 ước đạt 17 triệu kiện, không đổi so với dự báo trước đó, tuy vẫn cần thêm thông tin về vùng trồng và điều kiện thời tiết. Xuất khẩu vụ mùa 2011/12 được nâng lên 200.000 kiện, phản ánh những thay đổi mạnh mẽ trong mua bán hàng hóa và xuất khẩu, trong khi đó xuất khẩu trong năm 2012/13 giảm còn 200.000 kiện, do nhu cầu nhập khẩu từ thị trường ngoài thấp hơn. Nhu cầu sử dụng nội địa từ các nhà máy không đổi.
Giá bình quân vụ mùa 2012/13 được chấp nhận bởi nhà sản xuất có biên độ dao động từ khoảng 60 đến 80 cents mỗi pound, thấp 5 cents so tháng vừa qua tại mỗi đầu biên độ. Dự đoán vụ bông cho năm 2012/13 cho thấy sản xuất, thương mại và tiêu dùng đều thấp hơn tháng vừa qua, với trữ lượng thời điểm bắt đầu và kết thúc cao hơn. Sản lượng bông thế giới dự đoán giảm 1,4 triệu kiện, khi các nhà sản xuất nam bán cầu như Brazil, Úc, và Argentina dự kiến sẽ cắt giảm diện tích trồng bông, đáp lại sự giảm giá mạnh mẽ của giá bông.
Tiêu thụ bông thế giới sẽ giảm 1,0 triệu kiện, do sụt giảm tại Trung Quốc và Thái Lan, cùng với sự tăng trữ lượng bông từ Ấn Độ. Với giá bông thế giới giảm xuống, mức giá sàn cao tại Trung Quốc sẽ khiến cho các nhà máy sản xuất chỉ sợi trở nên kém cạnh tranh. Nhập khẩu Trung Quốc mùa 2012/13 cũng sẽ giảm chủ yếu do ước tính trữ lượng hàng tồn ban đầu cao hơn, chiếm tỉ lệ cao trong mức giảm chung của thế giới là 700.000 kiện. Trữ lượng hàng tồn cuối kì của thế giới dự đoán sẽ đạt mức 74,5 triệu kiện, tăng 1% so với ước tính từ tháng vừa rồi, trong đó Trung Quốc dự kiến chiếm 42 % tổng số.
Điều chỉnh quan trọng nhất đối với ước tính về vụ mùa bông niên vụ 2011/12 của thế giới là mức tăng gần 1,8 triệu kiện trong nhập khẩu bông từ phía Trung Quốc, phản ánh cả tốc độ tăng trong giao hàng, và sự tăng tốc tương ứng về xuất khẩu đối với Ấn Độ, Brazil, Úc, Hoa Kỳ và Malaysia. Cán cân thương mại của Ấn Độ cũng có lẽ sẽ được điều chỉnh để phản ánh những chỉ số tiêu dùng tăng cao, một mức điều chỉnh đã được thêm vào cho mỗi năm từ năm 2006/07 nhằm đối trọng lại với thâm hụt trong trữ lượng hàng có thể nảy sinh từ số liệu thống kê sẵn có về sản xuất, tiêu dùng và thương mại.
(Theo Fibre2fashion – AT, ITPC)
|