Giới thiệu     Đăng ký nhận bản tin     Câu hỏi thường gặp     Disclaimer     
                   
Bạn đang ở: Xuất khẩu » Hoạt động ITPC » Một số lưu ý cho doanh nghiệp khi khôi phục hoạt động sau dịch Covid-19
Một số lưu ý cho doanh nghiệp khi khôi phục hoạt động sau dịch Covid-19
Tin ngày :  22/06/2020
Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật thông tin thị trường, phòng ngừa rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp, khôi phục lại hoạt động kinh doanh, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tổ chức Hội thảo “Một số lưu ý cho doanh nghiệp khi khôi phục hoạt động sau dịch Covid-19”.

Đại dịch Covid-19 bùng phát từ cuối năm 2019 và lan rộng trên toàn cầu sau đó, đã và đang tác động sâu rộng đến toàn bộ đời sống xã hội và sản xuất kinh doanh của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Để phòng chống dịch bệnh, Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo và triển khai các biện pháp quyết liệt, đồng bộ: đóng cửa tất cả các trường học từ sau Tết Nguyên Đán Canh Tý; tạm dừng các chuyến bay đi và đến Trung Quốc, sau đó là tất cả các đường bay quốc tế; thực hiện cách ly xã hội từ ngày 01/4… Nhờ đó, Việt Nam đã đạt hiệu quả cao trong phòng chống dịch, được các tổ chức quốc tế và cơ quan truyền thông, thông tấn nước ngoài ca ngợi. Tính đến nay, Việt Nam mới chỉ có 335 ca nhiễm, trong đó đã chữa khỏi cho 325 ca (chiếm 97%) và đặc biệt là không có ca nào tử vong. Đã hơn hai tháng qua, Việt Nam chưa ghi nhận thêm trường hợp nhiễm Covid-19 nào mới trong cộng đồng. Do đó, Việt Nam đã sớm chuyển giai đoạn phục hồi kinh tế, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp trở lại hoạt động trong trạng thái “bình thường mới” đã và đang gặp rất nhiều khó khăn.

Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật thông tin thị trường, phòng ngừa rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp, khôi phục lại hoạt động kinh doanh, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tổ chức Hội thảo “Một số lưu ý cho doanh nghiệp khi khôi phục hoạt động sau dịch Covid-19”.

Vận dụng hiệu quả các FTA

Tại buổi hội thảo, bà Cao Thị Phi Vân – Phó Giám đốc ITPC đã chia sẻ về cách thức để vận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) trong bối cảnh hiện nay. Theo bà Vân, sự ra đời và phát triển của các FTA gắn liền với quá trình phát triển của thương mại thế giới. Các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng nhu cầu mở rộng giao thương, đầu tư và cắt giảm thuế quan. Quá trình tự do hóa thương mại do đó phát triển trên cả hai hình thức thỏa thuận theo hướng đa phương và thỏa thuận theo hướng song phương. Tuy nhiên có một thực tế, các vòng đàm phán cấp độ toàn cầu, theo hướng đa phương thường kéo dài, thậm chí đi vào bế tắc. Để đối phó với thực trạng này, các quốc gia có xu hướng quay sang ký kết các FTA, dẫn tới sự gia tăng mạnh mẽ các FTA trong những thập niên gần đây. Các FTA có vai trò thúc đẩy thương mại tự do, hợp tác kinh tế và đầu tư giữa các quốc gia với nhau. Việt Nam là một trong những quốc gia tích cực tham gia ký kết và thực thi các FTA nhất. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết 13 FTA (trong đó 12 FTA đã có hiệu lực và EVFTA mới được quốc hội thông qua ngày 08/6/2020), 03 FTA đang trong quá trình đàm phán, với tổng số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biệt, Việt Nam đã chủ động và tích cực ký kết các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA. Đây là các FTA có mức cam kết rất cao, gần 100% các dòng thuế sẽ được các bên cam kết xóa bỏ, tạo hành lang thuận lợi cho hàng hóa lưu thông tự do giữa các đối tác tham gia hiệp định, độ mở của nền kinh tế rất cao. Đồng thời, các FTA thế hệ mới không chỉ bó hẹp trong thương mại và đầu tư như các FTA truyền thống, mà còn bao gồm các cam kết về mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, các biện pháp phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, cơ chế giải quyết tranh chấp, lao động, môi trường…

Bà Cao Thị Phi Vân cũng chia sẻ về những cơ hội và thách thức của doanh nghiệp trong nước khi Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do. Theo đó, cơ hội mang lại là mở rộng thị trường xuất khẩu; thu hút dòng vốn FDI; thúc đẩy các quan hệ kinh tế khác; gia tăng tính ổn định và bền vững của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, đi kèm với cơ hội luôn là thách thức. Bà Vân cho biết, thách thức đối với doanh nghiệp sẽ gặp phải là sự cạnh tranh về thị trường cả ở trong và ngoài nước; cạnh tranh trong thu hút FDI; các thách thức chung về môi trường, thể chế, biến đổi khí hậu… Và thách thức mà tất cả các doanh nghiệp phải vượt qua hiện nay là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Qua đó, bà Cao Thị Phi Vân đưa ra lời khuyên cho các doanh nghiệp cần lưu ý để vận dụng tốt nhất các lợi thế mà FTA đem lại như: đẩy mạnh thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường; cập nhật thường xuyên các yêu cầu của thị trường; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; thực hiện các hoạt động khảo sát thị trường thực tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; nghiên cứu và hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về các cam kết của FTA để tận dụng hiệu quả nhất các ưu đãi thuế quan, phòng tránh rủi ro.

Kinh doanh trực tuyến: Cánh cửa mới cho doanh nghiệp hậu Covid-19

Luật sư Lê Thành Kính - Giám đốc Công ty Luật TNHH Lê Nguyễn – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã nêu lên những vấn đề quan trọng mà doanh nghiệp cần quan tâm khi tiến hành các phương án mới nhằm khôi phục hoạt động kinh doanh hậu Covid-19. Theo ông Kính, trong bối cảnh dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp tại nhiều nơi trên thế giới như hiện nay, việc thay đổi hình thức kinh doanh sang trực tuyến là một hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp Việt Nam.

Thị trường bán lẻ Việt Nam những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao, khoảng 10%/năm, giá trị thị trường bán lẻ ước đạt 160 tỷ USD vào năm 2020. Bên cạnh đó, Việt Nam hiện được đánh giá là một trong những thị trường thương mại điện tử phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á, chỉ xếp sau Indonesia. Với mức tăng trưởng cao và liên tục từ năm 2015 trở lại đây, theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), năm 2018 thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam có tốc độ tăng trưởng trên 30% với quy mô thị trường TMĐT lên tới khoảng 7,8 tỷ USD. Vai trò của thương mại điện tử cũng dần trở nên quan trọng hơn khi tỷ trọng doanh thu từ thương mại điện tử trên tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước năm 2019 đạt 4,2%, tăng 0,6% so với năm 2018. Số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến trên các nền tảng TMĐT cũng tăng vọt. Năm 2019, cả nước có 39,9 triệu lượt người tham gia mua sắm trực tuyến, tăng 11,8% so với năm 2018 và tăng gần gấp đôi chỉ sau 3 năm. Giá trị mua sắm trực tuyến bình quân đầu người đạt 202 USD, tăng 8,6%. Đồng thời, hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh trực tuyến cũng đã được Chính phủ và các bộ ngành ban hành. Đây là tiền đề quan trọng để các doanh nghiệp gia nhập và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trực tuyến của mình.

Theo chia sẻ của Luật sư Lê Thành Kính, kinh doanh trực tuyến không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại trong tình hình dịch bệnh hiện nay, mà đây còn là xu hướng tương lai của ngành bán lẻ. Người tiêu dùng ngày càng sử dụng internet nhiều hơn, tìm kiếm sản phẩm và mua sắm trực tuyến nhiều hơn, mở ra cơ hội cho doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động kinh doanh, tăng doanh thu. Nền kinh tế thế giới đang chuyển mình hướng đến nền công nghiệp 4.0, các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán mobile ngày càng phổ biến; cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok, Instagram, Youtube… thì kinh doanh trực tuyến đang ngày càng trở nên quan trọng đối với doanh nghiệp.

Luật sư Lê Thành Kính cũng nêu lên một số điểm cần lưu ý cho doanh nghiệp khi tiếp tục hợp đồng với đối tác cũ và thiết lập hợp đồng với đối tác mới. Theo ông Kính, doanh nghiệp nên tìm kiếm các đối tác mới trong tương lai thay vì phụ thuộc vào một vài khách hàng nước ngoài lớn; tiến hành rà soát tình trạng pháp lý hiện tại của doanh nghiệp đối tác; tạm ngừng hợp đồng hoặc chấp nhận hoãn thanh toán từ 01 đến 03 tháng trên cơ sở quan hệ đối tác giữa các bên. Ông Kính lưu ý các doanh nghiệp trong trường hợp các đối tác có đơn hàng lớn, quan hệ thương mại lâu dài, thì việc đưa vụ việc thành một tranh chấp pháp lý hay hủy hợp đồng ở giai đoạn này có lẽ là quá sớm, ngoại trừ những vụ việc mà doanh nghiệp nước ngoài là bên mua và đã xác định rõ là mất khả năng chi trả và phá sản hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong trường hợp bắt buộc phải hủy hợp đồng thì cần thiết phải vận dụng và viện dẫn các điều khoản bất khả kháng trong thương mại quốc tế một cách chuẩn xác để tránh rủi ro không đáng có.

Rủi ro pháp lý và phương pháp giải quyết thông qua trọng tài thương mại

Luật sư Lương Văn Lý, Cố vấn cao cấp Global Lawyers – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nêu lên các loại tranh chấp phổ biến do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 gây ra, bao gồm: (1) tranh chấp về hợp đồng thuê mặt bằng, hợp đồng mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, phổ biến nhất là đặt phòng khách sạn, tổ chức tour du lịch; hợp đồng lao động; (2) tranh chấp do các bên gặp khó khăn hiện tại hoặc dự kiến về lưu chuyển tiền tệ, suy giảm đáng kể hoặc mất khả năng chi trả do cách ly, giãn cách xã hội; (3) trường hợp xảy ra do sự cố đột xuất, không lường trước, hậu quả nghiêm trọng, không xác định được thời gian phục hồi… Ông Lý thông tin, với các loại tranh chấp nêu trên, sẽ gặp một số vướng mắc trong giải quyết đối với doanh nghiệp như là hoãn thực hiện, điều chỉnh hay hủy hợp đồng; nếu giải quyết thì sẽ căn cứ trên cơ sở quy định nào của pháp luật cho phù hợp; tranh chấp đó có được áp dụng điều khoản “bất khả kháng” hay chỉ là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”. Ông Lý khuyên các doanh nghiệp nên tìm hiểu kỹ xem nội dung về điều kiện “bất khả kháng” trong hợp đồng có quy định trường hợp dịch bệnh cụ thể hay không. Nếu là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, doanh nghiệp cần cân nhắc đưa tranh chấp ra tòa án giải quyết vì chỉ có tòa án mới có thẩm quyền quyết định biện pháp khắc phục. Tuy nhiên, ông Lý cũng lưu ý các doanh nghiệp xem xét về thời điểm khởi kiện và nơi tiến hành khởi kiện (tòa án hay trọng tài), phương thức hòa giải cũng nên được quan tâm xem xét thấu đáo, đảm bảo lợi ích các bên và tránh mất thời gian, chi phí cho doanh nghiệp. Luật sư Lương Văn Lý cũng cung cấp cho các doanh nghiệp tham dự buổi hội thảo trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp tại tòa và trọng tài. Qua đó doanh nghiệp có thể phân biệt được sự khác nhau giữa hai hình thức giải quyết để đưa ra lựa chọn phù hợp.
Tin khác
 
Đăng ký nhận bản tin
 
 
    Sự kiện mới
 
[ xem tiếp ]