Giới thiệu     Đăng ký nhận bản tin     Câu hỏi thường gặp     Disclaimer     
                   
Bạn đang ở: Xuất khẩu » Câu hỏi thường gặp » Doanh nghiệp chúng tôi có chức năng xuất nhập khẩu. Thường xuyên mua bán với các đối tác nước ngoài.Xin hỏi:1/ Pháp luật Việt Nam có qui định việc mua bán này có nhất thiết phải thực hiện bằng hợp đồng ngoại thương không ?2/ Thông thường chúng tôi mua bán với nhau chỉ qua đơn đặt hàng thì có được xem là hợp pháp không ? và đơn đặt hàng này có được xem là chứng từ kế toán khi xin hoàn thuế GTGT ? 3/ Trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa bên mua và bên bán (chỉ bằng đơn đặt hàng) thì cơ quan chức năng nào đứng ra thụ lý ?
CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
 
Câu hỏi: Doanh nghiệp chúng tôi có chức năng xuất nhập khẩu. Thường xuyên mua bán với các đối tác nước ngoài.Xin hỏi:1/ Pháp luật Việt Nam có qui định việc mua bán này có nhất thiết phải thực hiện bằng hợp đồng ngoại thương không ?2/ Thông thường chúng tôi mua bán với nhau chỉ qua đơn đặt hàng thì có được xem là hợp pháp không ? và đơn đặt hàng này có được xem là chứng từ kế toán khi xin hoàn thuế GTGT ? 3/ Trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa bên mua và bên bán (chỉ bằng đơn đặt hàng) thì cơ quan chức năng nào đứng ra thụ lý ?
Trả lời:

Về câu hỏi của quý doanh nghiệp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Văn phòng II Bộ Thương mại trả lời như sau:
1. Căn cứ Luật Thương mại (sửa đổi) năm 2005 đã được Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 (từ ngày 05/05/2005 đến 14/06/2005) thông qua, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 (gọi tắt là Luật Thương mại 2005):
- Tại khoản 2 Điều 27 quy định: Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

Do đó, việc mua bán hàng hóa cần phải thực hiện bằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

2. a. Về tính pháp lý của đơn đặt hàng:
- Tại khoản 1 Điều 24 Luật Thương mại 2005 nêu rõ: Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
- Và tại Điều 12: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của Pháp luật.

Như vậy, nếu một đơn đặt hàng thoả mãn các nội dung và điều kiện pháp lý cần thiết của hợp đồng thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương.

b. Về việc hoàn thuế giá trị gia tăng, doanh nghiệp cần tham khảo Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 và Thông tư 84/2004/TT-BTC ngày 18/08/2004 của Bộ Tài chính (gọi tắt là TT 120/2003/TT-BTC và TT 84/2004/TT-BTC) hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế GTGT. Cụ thể, doanh nghiệp cần đọc Tiết 1.2c, Khoản 1.1, Mục III, phần B Thông tư 120/2003/TT-BTC về việc xác định Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Liên quan đến Hồ sơ hoàn thuế, Doanh nghiệp cần đọc kỹ Phần D của Thông tư 120/2003/TT-BTC. Để được giải đáp chi tiết hơn, doanh nghiệp có thể liên hệ với Tổng cục thuế - Bộ Tài chính.

3. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa bên mua và bên bán sẽ có các hình thức giải quyết tranh chấp quy định tại Điều 317 của Luật Thương mại 2005:
+ Thương lượng giữa các bên.
+ Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải.
+ Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong Thương mại tại Trọng tài, Tòa án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Tòa án do Pháp luật quy định.

Các câu hỏi thường gặp khác
 
    Bí quyết mới  
[ xem tiếp ]